Bạn hoặc người thân của bạn đã được khuyên nên đặt ống thông màng phổi dẫn đường và không chắc chắn liệu pháp này có tác dụng ra sao? Chúng tôi sẽ trình bày chi tiết các bước và những nội dung liên quan đến phương pháp điều trị này.
Tại Phòng Khám và Viện Điều Trị Phổi ( Interventional Pulmonology and Lung Clinic) ở Singapore, chúng tôi là chuyên gia về những vấn đề của phổi và các phương pháp điều trị giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Catheter (ống thông) màng phổi dẫn đường, còn được gọi là ống thông màng phổi lưu trú, là một phương pháp điều trị thường được sử dụng cho các tình trạng bệnh như tràn dịch màng phổi tái phát ác tính.
Tràn dịch màng phổi, hay còn gọi là tích nước trong phổi, xảy ra do dư thừa dịch tích tụ giữa các màng phổi. Mặc dù có một lượng dịch nhỏ trong màng phổi là bình thường để bôi trơn, nhưng quá nhiều dịch có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe. Tình trạng này có thể xuất hiện do nhiễm trùng, lao (TB) hoặc ung thư gây ra.
Ngoài những rủi ro này, tích tụ dịch trong phổi cũng gây ra các triệu chứng khó chịu như:
Ống thông màng phổi dẫn đường được đặt trong phổi để sử dụng lâu dài. Nó dài khoảng 66 cm, được làm bằng cao su silicone, có van một chiều dẫn vào bình áp lực âm. Nó cho phép bệnh nhân kiểm soát tốt hơn các triệu chứng của tràn dịch màng phổi tái phát ác tính tại nhà mà không cần nhập viện thường xuyên. Nó hoạt động theo cách cho phép thoát dịch thừa qua ống thông.

Quy trình đặt catheter màng phổi dẫn đường thường là một thủ thuật đơn giản. Mặc dù bạn có thể tỉnh táo trong suốt thủ thuật, nhưng bệnh nhân cũng có thể được dùng thuốc an thần để giảm thiểu khó chịu và đau đớn. Biến chứng có thể bao gồm chảy máu và nhiễm trùng, nhưng những biến chứng này rất hiếm.
Trong suốt thủ thuật, catheter được trượt vào các vết cắt nhỏ trên ngực và vào khoang màng phổi. Nó sẽ được khâu lại để giữ cố định, sau đó băng lại. Một phần dịch tràn có thể được rút ra bằng catheter để đảm bảo rằng nó đang hoạt động bình thường. Sau đó, bạn có thể về nhà theo hướng dẫn của bác sĩ về thời điểm bạn có thể tắm, thay băng và những thao tác tương tự.

Vì ống thông được thiết kế để cho phép bạn kiểm soát tràn dịch màng phổi tại nhà, nên điều quan trọng là bạn hoặc người chăm sóc phải được bác sĩ hướng dẫn thích hợp về cách dẫn lưu thoát dịch và vệ sinh ống thông. Hãy chắc chắn rằng bạn đã được thông tin đầy đủ và hỏi bất kỳ câu hỏi nào bạn có thể đang thắc mắc trước khi rời khỏi bệnh viện sau khi được đặt ống thông màng phổi dẫn đường.
Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tình trạng phổi, lượng dịch sẽ khác nhau tùy theo từng bệnh nhân. Bác sĩ của bạn sẽ mô tả chi tiết cho bạn về vấn đề này. Bạn cũng sẽ được hướng dẫn về cách giữ cho ống thông sạch sẽ và vô trùng để giảm thiểu nguy cơ nhiễm trùng.
Thói quen ghi chép sau mỗi lần cần thoát dịch cũng là một ý kiến hay để bạn có thể thông báo cho bác sĩ nếu có bất kỳ thay đổi nào. Điều này bao gồm ghi nhận lượng dịch thoát ra, màu sắc và bất kỳ triệu chứng nào khác mà bạn có thể gặp phải.
Một số bệnh nhân có thể cảm thấy đau trong khi thoát dịch, vì vậy tốt nhất là phải cho bác sĩ biết về mọi cảm giác của bạn trong lần khám tiếp theo để họ có thể kê đơn thuốc giảm đau cho bạn nếu cần thiết. Ngoài ra, lượng dịch tiết của bạn có thể chậm lại, có nghĩa là bạn có thể không cần catheter nữa, đó là lý do tại sao thói quen theo dõi lượng dịch tiết thường được khuyến cáo duy trì.
Luôn luôn đảm bảo rằng tay của bạn sạch sẽ trước và sau khi thoát dịch, hoặc khi thay băng. Rửa tay bằng xà phòng hoặc sử dụng dung dịch rửa tay bằng cồn. Nếu catheter của bạn di chuyển hoặc vô tình bị tuột ra ngoài, hoặc nếu có dấu hiệu nhiễm trùng tiềm ẩn, hãy liên hệ với bác sĩ ngay lập tức.

Đối với một số bệnh nhân, ống thông màng phổi chỉ là một giải pháp tạm thời. Khi dịch tràn khô cạn hoặc lượng dịch tiết giảm đi đáng kể, bác sĩ có thể đề nghị tháo bỏ ống thông. Nhìn chung, nhiều bệnh nhân có thể tháo bỏ ống thông trong khoảng từ 3-4 tháng sau khi đặt ống.
Hãy liên hệ với chúng tôi nếu bạn đang có thắc mắc xoay quanh các tình trạng bệnh ở phổi hoặc thủ thuật đặt ống thông màng phổi dẫn đường.